Fenway Park
America's Most Beloved Ballpark[1] Friendly Fenway | |
| Tập tin:Fenway Park logo.svg | |
Fenway Park tại kì World Series 2013 | |
| Địa chỉ | 4 phố Jersey[2] Hoa Kỳ |
|---|---|
| Vị trí | Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ |
| Tọa độ | 42°20′47″B 71°5′52″T / 42,34639°B 71,09778°T |
| Chủ sở hữu | Fenway Sports Group |
| Nhà điều hành | Fenway Sports Group / Boston Red Sox |
| Sức chứa | 37,305 (day) 37,755 (night)[3] |
| Mặt sân | Cỏ lam Kentucky |
Kỷ lục khán giả | 47,627 (September 22, 1935)[4] |
Kích thước sân | |
| Giao thông công cộng | at Lansdowne at Kenmore and Fenway |
| Công trình xây dựng | |
| Khởi công | 25 tháng 9 năm 1911 |
| Khánh thành | 20 tháng 4 năm 1912 |
| Sửa chữa lại | 1988, 2002–2011, 2017 |
| Mở rộng | 1934, 1946, 2002–2011, 2017, 2022 |
Chi phí xây dựng | US$650,000 ($21,2 triệu in 2022 dollars[5]) |
| Kiến trúc sư | James E. McLaughlin[6][7] |
Kỹ sư kết cấu | Osborn Engineering Corp.[7] |
Nhà thầu chung | Charles Logue Building Company, Coleman Brothers, Inc.[7] |
| Bên thuê sân | |
| |
| Trang web | |
| mlb | |
Fenway Park | |
| Số NRHP # | 12000069[8] |
| Đưa vào NRHP | 7 tháng 3 năm 2012 |
Sân vận động Fenway Park là một sân bóng chày đặt tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ, gần Quảng trường Kenmore. Sân là sân nhà của đội Boston Red Sox thuộc Giải bóng chày Nhà nghề Mỹ (MLB) kể từ khi khánh thành năm 1912. Mặc dù sân được xây dựng vào năm 1912, nhưng nó đã trải qua một xây lại vào năm 1934, [9] trước khi trải qua các cuộc cải tạo và sửa đổi lớn trong thế kỷ 21. Là sân bóng chày hoạt động lâu đời nhất trong MLB,[10] tuổi đời và vị trí quy hoạch lịch sử hạn chể trong khu phố Fenway–Kenmore đông đúc ở Boston khiến sân vận động này có nhiều đặc điểm kích thước kỳ lạ gồm góc "Tam giác", Cột Pesky và bức tường Green Monster ở cánh trái. Đây là sân bóng chày nhỏ thứ năm tại MLB theo sức chứa chỗ ngồi, nhỏ thứ hai về tổng sức chứa và là một trong chín sân không thể chứa ít nhất 40.000 khán giả.
Trong 11 lần tổ chức các kì chung kết World Series tại Fenway Park, đội Red Sox đã giành chiến thắng 6 lần và đội Boston Braves thắng 1 lần.[note 1] Bên cạnh bóng chày, nơi đây cũng là địa điểm tổ chức nhiều sự kiện thể thao và văn hóa khác, bao gồm các trận đấu bóng bầu dục chuyên nghiệp của các đội Boston Redskins, Boston Yanks và Boston Patriots; các buổi hòa nhạc; các trận đấu bóng đá và khúc côn cầu, cũng như các chiến dịch chính trị và tôn giáo.
Vào ngày 7 tháng 3 năm 2012 (kỷ niệm 100 năm khánh thành), sân Fenway Park đã đón nhận danh hiệu Di tích Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ.[11][12] Nó là một địa danh ở cuối con đường di sản người Ireland ở Boston. Cựu vận động viên giao bóng Bill Lee đã gọi Fenway Park là "một thánh đường".[13] Hiện sân đang chờ phê duyệt là Di tích Lịch sử Boston, điều sẽ thắt chặt quản lý mọi động thái sửa đổi hiện trạng sân.[14] Sân Fenway được coi là một trong những địa điểm thể thao nổi tiếng nhất thế giới và là biểu tượng của Boston.[15]
Đặc điểm
[sửa | sửa mã nguồn]Sân bóng nằm dọc đường Lansdowne và đường Jersey trong khu Kenmore Square của Boston. Khu này bao gồm nhiều tòa nhà có chiều cao và kiến trúc tương tự nhau, do đó sân có thiết kế rất hòa hợp với môi trường xung quanh. Khi tay ném Roger Clemens đến Boston lần đầu vào năm 1984, ông đã bắt taxi từ sân bay Logan và chắc chắn rằng người lái xe đã hiểu nhầm chỉ dẫn của ông khi ông thông báo họ đã đến sân. Clemens kể lại đã nói với người tài xế: "Không, Fenway Park, sân vận động bóng chày í."... đây là nhà kho mà." Chỉ khi tài xế bảo Clemens nhìn lên và anh ta trông thấy cột đèn chiếu thì anh ta mới nhận ra mình đang ở đúng chỗ.[16]

Sân Fenway Park là một trong hai sân bóng chày kiểu đô thị cổ điển còn sót lại vẫn đang được sử dụng tại Major League Baseball (MLB), cùng với sân Wrigley Field; cả hai đều có một số chỗ ngồi bị che khuất tầm nhìn do các cột dầm chống tầng khán đài trên. Những chỗ ngồi này vẫn được bán như vậy và là lời nhắc nhở về những hạn chế kiến trúc của các sân bóng chày lâu đời.[17]
George Will khẳng định trong cuốn sách Men at Work của mình rằng Fenway Park là một "sân bóng thuận lợi cho người đánh bóng", với tường rào ngắn hơn chuẩn ở cánh phải sân ngoài (302 feet), phần sân ngoài biên nhỏ (nhỏ nhất trong số các sân tại MLB hiện tại) và hàng rào sân ngoài nhìn chung gần hơn bình thường. Theo Điều 1.04, Chú thích (a), luật MLB,[18] tất cả các sân bóng được xây dựng sau năm 1958 đều phải có đường biên xa ít nhất 325 foot (99 m) và tường rào ở trung lộ xa ít nhất 400 foot (120 m) từ chốt nhà. (Điều luật này đã dẫn đến hậu quả ngoài ý muốn là kỷ nguyên các sân "rập khuôn" đã kết thúc khi sân Oriole Park tại Camden Yards ở Baltimore khai trương năm 1992). Về phần sân ngoài biên nhỏ, Will viết:
Mặt sân ngoài biên nhỏ tại Fenway Park có thể đã nâng tỷ lệ đánh bóng cỡ 5 tới 7 điểm. Kể từ Chiến tranh thế giới thứ II, đội Red Sox đã có 18 quán quân đánh bóng (tính tới năm 1989)... Xét đến việc một đội đánh tốt chỉ cách một đội đánh tồi từ 15 tới 20 điểm tỷ lệ đánh bóng, 5 tới 7 điểm do điều kiện sân là một lợi thế rất lớn.[19]:tr. 175
Will cho rằng, một số nhà quan sát có thể cảm thấy rằng những khía cạnh độc đáo này của Fenway mang lại cho Red Sox lợi thế bất công so với các đối thủ của họ, vì hàng công của Red Sox chơi 81 trận trên sân nhà trong khi mỗi đối thủ chỉ chơi không quá bảy trận làm khách, nhưng Will không đồng tình với quan điểm này.:p. 177
Tường rào khu vực ném khởi động của sân Fenway Park thấp hơn nhiều so với hầu hết các hàng rào sân ngoài các sân khác; các hậu vệ thường bị văng qua hàng rào này này khi đuổi theo những quả bóng đánh ra hướng đó, chẳng hạn như trường hợp của Torii Hunter khi đuổi theo cú grand slam gỡ hòa của David Ortiz về hướng đó trong ván 2 chung kết AL năm 2013.
Bức tường Green Monster
[sửa | sửa mã nguồn]"Green Monster" (quái vật màu xanh) là biệt danh của bức tường cao 37.167 foot (11.329 m)[20] ở cánh trái sân ngoài tại sân Fenway. Nó cách chốt nhà 310 đến 315 foot (94 đến 96 m), một khoảng cách ngắn thường có lợi cho những người đánh thuận tay phải.[21]
Là một phần của thiết kế sân từ ngày đầu đầu năm 1912, bức tường được làm bằng gỗ, sau đó được phủ thiếc và bê tông vào năm 1934, khi bảng điểm được vận hành thủ công được lắp đặt, trước khi được phủ bằng nhựa cứng vào năm 1976. Nếu một quả bóng đánh ra đi qua một lỗ trên bảng điểm trong khi người vận hành thay số, người đánh bóng sẽ được tính một hit đôi (double) theo luật sân.[22] Tương tự, nếu quả bóng đánh ra va vào các đèn biểu thị ball, strike và out, nó cũng được coi là một hit đôi theo luật sân.[23]
Mặt trong bức Green Monster được phủ đầy những chữ ký của các cầu thủ trong suốt thời gian tồn tại. Mặc dù tên là vậy, trên thực tế Green Monster phải tới năm 1947 mới được sơn xanh; trước đó, tường phủ đầy áp phích quảng cáo. Cái tên Monster cũng tương đối mới, khi trong hầu hết lịch sử tồn tại người ta chỉ gọi nó là "bức tường".[24] Trên đỉnh tường được lắp đặt hiên ngồi vào năm 2003.[25]
"Góc Triangle"
[sửa | sửa mã nguồn]
"Triangle" (góc tam giác) là một khu vực ở trung lộ sân ngoài, nơi tường rào tạo thành một hình tam giác có góc xa nhất cách chốt nhà 420 foot (130 m). Điểm sâu lệch phải nói trên thường được tính là khoảng cách rào trung lộ. Điểm chính giữa trung lộ không hề được đánh dấu phía bên trái góc "Triangle", và cách chốt nhà 390 foot (120 m).[26]
"Williamsburg"
[sửa | sửa mã nguồn]"Williamsburg" là cái tên do các nhà báo thể thao đặt cho khu vực ném khởi động được xây dựng phía trước khán đài cánh phải sân ngoài vào năm 1940. Thiết kế này chủ yếu nahwfm tạo lợi thế cho Ted Williams và các cầu thủ thuận tay trái khác có thể đánh được nhiều home run hơn, khi kéo tường rào gần chốt nhà hơn 23 foot (7,0 m) so với vách khán đài.[27]
Chiếc ghế đỏ
[sửa | sửa mã nguồn]Chiếc ghế đỏ duy nhất ở khán đài cánh phải sân Fenway (Khu 42, Hàng 37, Ghế 21) tượng trưng cho cú home run bay xa nhất từng ghi được tại Fenway, do Ted Williams thực hiện vào ngày 9 tháng 6 năm 1946.[28] Cú bóng trên được đo chính thức là 502 foot (153 m), vượt xa khu "Williamsburg". Theo Hit Tracker Online, nếu không bị cản trở, quả bóng có thể sẽ bay xa 520 đến 535 foot (158 đến 163 m).[29]
Quả bóng rơi trúng Joseph A. Boucher, xuyên qua chiếc mũ rơm rộng vành và đập vào đầu ông. Boucher bàng hoàng thuật lại sau đó:
Ở sân này tôi phải ngồi bao xa để không gặp nguy hiểm thế? Tôi còn không giữ lấy quả bóng đó. Người ta bảo đập đầu tôi xong nó bật ra sau khoảng chục hàng ghế nữa, nhưng tôi dính bóng vào đầu rồi nên cũng không quan tâm. Không ai, kể cả tôi, thấy bóng bay tới vì mắt bị nắng chói rồi. Tất cả những gì chúng tôi có thể làm là núp xuống. May mà tôi không đứng lên.[30]

Cột biên
[sửa | sửa mã nguồn]

Cột của Pesky (hay Cột Pesky) là tên gọi của cột biên phải của sân, cách chốt nhà chỉ 302 foot (92 m),[26] biến đường biên phải ở sân Fenway trở thành khoảng cách sân ngoài ngắn nhất tại Giải bóng chày Nhà nghề Mỹ (MLB). [31] Giống như khoảng cách đường biên trái tại Fenway Park, kích thước ở cột này cũng đã gây tranh cãi. Không ảnh cho thấy nó gần chốt nhà hơn đáng kể[32] so với đường biên phải 302 feet trong thực tế, và có người khẳng định khoảng cách cột Pesky ước tính "khoảng 295 feet". Không có khoảng cách nào được ghi chính thức trên rào.
Mặc dù bức rào ở cột Pesky rất gần, hiếm có những cú home run ghi được ở khu vực này, vì hàng rào cạnh cột cong ra xa một cách đột ngột. Cột được đặt tên theo Johnny Pesky, một cầu thủ chặn ngắn đánh bóng không mạnh và là huấn luyện viên lâu năm tại Red Sox. Trong số sáu cú home run của mình tại Fenway Park, ông có một số cú bay vắt theo nhưng không bao giờ đánh trúng cột. Pesky (thi đấu từ năm 1942 đến năm 1952, ngoại trừ giai đoạn 1943-1945) chỉ đánh được 17 cú home run trong sự nghiệp của mình (6 tại Fenway Park).[33] Cầu thủ giao bóng, và sau này là bình luận viên của Red Sox Mel Parnell được coi là người đã nghĩ cái tên này. Theo Pesky, Mel Parnell đã đặt tên cho cột biên phải này như vậy sau khi Pesky giúp Parnell giành chiến thắng một trận đấu vào năm 1948 với một cú home run về phía đường biên phải gần, ngay gần cột.[34]
Mặc dù cái tên cột Pesky đã được sử dụng từ những năm 1950, nhưng nó trở nên phổ biến hơn nhiều khi Parnell bắt đầu làm bình luận viên cho Red Sox vào năm 1965. Quả home run quyết định chiến thắng trước Julián Tavárez của Mark Bellhorn trong ván đấu đầu tiên của World Series năm 2004 đã đập vào phần lưới cây cột này.
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2006, nhân ngày sinh nhật thứ 87 của Pesky, đội Red Sox đã chính thức đặt tên cột biên phải là "Cột Pesky", với một tấm bảng kỷ niệm được đặt ở chân cột.[35]
Luật sân
[sửa | sửa mã nguồn]- Bóng bay thủng qua bảng điểm, dù là nảy hay bay, đều được tính là cú hit đôi (double) theo luật sân.
- Một cú bóng bổng chạm vào bức tường lệch trái sân ở bên phải hoặc trên đường thẳng phía sau cột cờ được tính là một cú home run.
- Một cú bóng bổng chạm tường hoặc cột cờ rồi bật vào khán đài được tính là home run.
- Một cú bóng bổng chạm vạch hoặc lệch sang phải vạch trên tường ở trung lộ sân ngoài được tính là home run.
- Một cú bóng bổng chạm vào tường bên trái vạch và nảy vào khu vực ném khởi động được tính là một cú home run.
- Một cú bóng mắc vào lưới chắn khu vực ném khởi động hoặc nảy vào khu vực ném khởi động được tính là hit đôi theo luật sân.
- Một cú bóng đánh ra hay được ném mà nằm phía sau hoặc bên dưới tấm bạt hoặc mắc trong ống bạt được tính là hit đôi theo luật sân.
- Một cú bóng chạm vào đỉnh bảng tỷ số ở cánh trái sân ngoài, nằm ở hàng ghế bên dưới đỉnh tường và bật ra khỏi sân, được tính là hit đôi theo luật sân.
- Một cú bóng bổng đáp xuống phía trên vạch đỏ trên đỉnh bức tường Green Monster và nảy vào sân thi đấu được tính là home run.
- Một cú đánh bóng bổng chạm vào lan can ở khu vực góc tam giác ở sân ngoài giữa phải được tính là home run.
Có một quan niệm sai lầm phổ biến trong số người hâm mộ rằng một quả bóng bay bị mắc kẹt trên hàng ghế phía trên bảng điểm trên bức tường sân bên trái được coi là cú hit ba theo luật sân. Không có đề cập nào về điều trên trong danh sách luật sân của Red Sox.[36]
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ The first was in 1912, the park's inaugural season (defeated the New York Giants), 1914 (Braves defeated the Philadelphia Athletics), 1918 (defeated the Chicago Cubs), 1946 (lost to the St. Louis Cardinals), 1967 (lost to the St. Louis Cardinals), 1975 (lost to the Cincinnati Reds), 1986 (lost to the New York Mets), 2004 (defeated the St. Louis Cardinals), 2007 (defeated the Colorado Rockies), 2013 (defeated the St. Louis Cardinals) and 2018 (defeated the Los Angeles Dodgers).
Tài liệu tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Fenway Park: Home of the Red Sox | Boston Red Sox". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2024.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "Address" - ↑ "2023 Boston Red Sox Media Guide". Major League Baseball Advanced Media. 2023. tr. 266. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Moore, Gerry (ngày 23 tháng 9 năm 1935). "Record crowd near 49,000 jams Fenway Park". Boston Globe. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018.
- ↑ Cụm nguồn chỉ số giá cả lạm phát tại Hoa Kỳ:
- Giai đoạn 1634–1699: McCusker, J. J. (1997). How Much Is That in Real Money? A Historical Price Index for Use as a Deflator of Money Values in the Economy of the United States: Addenda et Corrigenda [Giá đó đổi sang tiền thật bằng bao nhiêu? Chỉ số giá cả theo lịch sử lưu lại được sử dụng làm công cụ giảm phát giá trị tiền tệ trong nền kinh tế Hoa Kỳ: Addenda et Corrigenda] (PDF) (bằng tiếng Anh). American Antiquarian Society.
- Giai đoạn 1700–1799: McCusker, J. J. (1992). How Much Is That in Real Money? A Historical Price Index for Use as a Deflator of Money Values in the Economy of the United States [Giá đó đổi sang tiền thật bằng bao nhiêu? Chỉ số giá cả theo lịch sử lưu lại được sử dụng làm công cụ giảm phát giá trị tiền tệ trong nền kinh tế Hoa Kỳ] (PDF) (bằng tiếng Anh). American Antiquarian Society.
- Giai đoạn 1800–nay: Cục Dự trữ Liên bang Ngân hàng Minneapolis. "Consumer Price Index (estimate) 1800–" [Chỉ số giá tiêu dùng (ước tính) 1800–] (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2024.
- ↑ Turner, Greg (ngày 7 tháng 3 năm 2012). "Fenway Park Hits National Register of Historic Places". Boston Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012.
- 1 2 3 "Fenway Park". Baseball Almanac. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012.
- ↑ "Weekly List of Actions Taken on Properties:IES: 3/05/12 through 3/09/12" (PDF). National Park Service. ngày 16 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2012.
- ↑ "Facts and Figures: Read more about Fenway Park below". MLB.com.
- ↑ J.M. Soden (ngày 19 tháng 7 năm 2011). "Major League Baseball's five oldest ballparks". Yahoo! Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Swasey, Benjamin (ngày 20 tháng 4 năm 2012). "Red Sox, City Celebrate Fenway's 100th". WBUR. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2014.
- ↑ Reidy, Chris (ngày 7 tháng 3 năm 2012). "Fenway Park Is Listed in the National Register Of Historic Places". The Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2013.
- ↑ "Writers Speaking About the Books They Write". The Great Fenway Park Writers Series. 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
- ↑ "Fenway Park". bostonpreservation.org. ngày 2 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020.
- ↑ "When Baseball Meets Football: Boston and Liverpool". BBC. ngày 6 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010.
- ↑ Nowlin, Bill; Prime, Jim (2005). Blood Feud: The Red Sox, the Yankees and the Struggle of Good Vs. Evil. Rounder Records. ISBN 978-1-57940-111-5.
- ↑ Grossfeld, Stan (ngày 17 tháng 6 năm 2005). "The Worst Seats at Fenway". The Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2005.
- ↑ "Official Rules". Major League Baseball Advanced Media. 2012. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
- ↑ Will, George (1990). Men at Work: The Craft of Baseball. MacMillan. ISBN 9780026284707.
- ↑ Hoffarth, Tom (ngày 5 tháng 8 năm 2008). "A Southern California Guide to Fenway Park". Los Angeles Daily News. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2008.
- ↑ Paper, Lew (ngày 29 tháng 9 năm 2009). Perfect: Don Larsen's Miraculous World Series Game and the Men Who Made it Happen. Penguin Publishing. ISBN 9781101140451. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014.
- ↑ "5 Things You Didn't Know About Fenway Park". ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Lights out! Ball breaks bulb, gets stuck inside Green Monster". MLB.com.
- ↑ "Fenway Park Timeline – 1947". Major League Baseball Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2013.
- ↑ "Fenway Park Adds Green Monster Seats, Red Sox' Revamped Offense Leads Boston to ALCS in 2003". New England Sports Network. ngày 27 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014.
- 1 2 "Facts and Figures". Boston Red Sox. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2014.
- ↑ "Fenway Park Timeline – 1940". Major League Baseball Advanced Media. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2013.
- ↑ Kaese, Harold (ngày 10 tháng 6 năm 1946). "Ted Williams blasts longest home run in Fenway Park". The Boston Globe. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2019.
- ↑ Rybarczyk, Greg (2009). "Highlight Home Runs". ESPN. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
- ↑ Shaughnessy, Dan (ngày 9 tháng 6 năm 1996), "Long Ago It Went Far Away", The Boston Globe, Boston, Massachusetts
- ↑ Spirito, Lou (ngày 27 tháng 3 năm 2014). "Baseball's Many Physical Dimensions" (Image). visual.ly. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2014.
- ↑ Bucholtz, Andrew (ngày 16 tháng 7 năm 2017). "Yankees' shortstop Didi Gregorius hit a 295-foot home run, one of the shortest ever". Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Pesky at Baseball Reference".
- ↑ "Pesky Pole at Fenway Park". redsoxconnection.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2009.
- ↑ Pesky Pole Ceremony (Streaming Video). Trueveo. ngày 27 tháng 9 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2006.
- ↑ "Ground Rules | Boston Red Sox". MLB.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2025.