Đặng Dục
Đặng Dục | |
|---|---|
邓煜 | |
Đặng Dục năm 2026 | |
| Sinh | tháng 6, 1989 (37 tuổi) Khai Phong, Hà Nam, Trung Quốc |
| Học vị |
|
| Nổi tiếng vì | Suy ra phương trình Boltzmann |
| Giải thưởng |
|
| Website | Trang giảng viên tại UChicago Trang cá nhân |
| Sự nghiệp khoa học | |
| Ngành | Toán học |
| Nơi công tác | |
| Luận án | Long time behavior of some nonlinear dispersive equations (2015) |
| Người hướng dẫn luận án tiến sĩ | Alexandru D. Ionescu |
Đặng Dục (tiếng Trung: 邓煜; bính âm: Dèng Yù; sinh tháng 6 năm 1989) là một nhà toán học người Trung Quốc và giáo sư toán học tại Đại học Chicago. Ông được biết đến với các đóng góp cho phương trình vi phân riêng phần, động lực học chất lưu và phân tích xác suất. Năm 2026, ông được trao Huy chương Fields nhờ công trình suy ra phương trình Boltzmann từ động lực học của các quả cầu cứng, suy ra phương trình động học sóng từ các hệ tán sắc phi tuyến và phát triển những phương pháp xác suất để nghiên cứu động lực học phi tuyến.
Thời niên thiếu và học vấn
[sửa | sửa mã nguồn]Đặng Dục sinh vào tháng 6 năm 1989[1] tại Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.[2] Cha ông là kỹ sư phần mềm, còn mẹ ông là bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa.[1] Ông lớn lên tại Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông, và bắt đầu tham gia các cuộc thi toán từ bậc tiểu học.[3]
Khi còn nhỏ, Đặng Dục đã tham gia thi đấu và đạt nhiều thành tích cao trong các giải cờ vây.[4] Năm 2001, khi đang học trung học cơ sở, ông có dự định thi đấu chuyên nghiệp nhưng không vượt qua vòng tuyển chọn cho giải cờ vây toàn quốc của Trung Quốc. Sau này ông kể: "Hoặc cờ vây, hoặc toán học. Vì thua nên tôi quyết định chuyển sang toán học."[1] Khi học năm đầu tại Trường Trung học phổ thông Thâm Quyến, ông giành giải nhất tại Olympic Toán học Trung Quốc năm 2006.[5] Cùng năm đó, ông đại diện Trung Quốc tham dự Olympic Toán học Quốc tế và giành huy chương vàng khi mới 16 tuổi.[4]
Đặng Dục nhập học tại Đại học Bắc Kinh vào năm 2007 sau khi được miễn thi tuyển sinh đại học, cùng khóa với Vương Hồng (người sau này đạt giải Fields cùng năm với ông).[6] Ông học tại đây hai năm trước khi chuyển sang Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) vào tháng 6 năm 2009 và tốt nghiệp cử nhân toán học năm 2011.[7] Khi học đại học tại MIT, Đặng Dục bắt đầu quan tâm đến phương trình vi phân riêng phần. Sau khi nghiên cứu một bài toán do Gigliola Staffilani đề xuất, ông công bố một bài báo về phương trình Schrödinger phi tuyến trên tạp chí Analysis & Partial Differential Equations.[8]
Năm 2015, Đặng Dục nhận bằng tiến sĩ toán học tại Đại học Princeton.[7] Khi còn là nghiên cứu sinh tại Princeton, ông nhận Học bổng Jacobus, danh hiệu cao nhất của trường dành cho sinh viên sau đại học.[9] Luận án tiến sĩ của ông do Giáo sư Alexandru D. Ionescu hướng dẫn, mang tên Long time behavior of some nonlinear dispersive equations (Ứng xử dài hạn của một số phương trình tán sắc phi tuyến).[7] Ionescu nhận xét rằng Đặng Dục là một nhà toán học "xuất sắc ngay từ đầu [...] ngay cả khi còn là nghiên cứu sinh và chưa có kinh nghiệm [...] ông ấy rất giỏi nắm bắt bản chất và nhận ra điều quan trọng trong một bài toán".[8]
Sự nghiệp nghiên cứu
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi nhận bằng tiến sĩ, Đặng Dục làm giảng viên tại Viện Khoa học Toán học Courant thuộc Đại học New York từ năm 2015 đến năm 2018. Năm 2018, ông trở thành trợ lý giáo sư toán học tại Đại học Nam California và được phong giáo sư tại đây vào tháng 4 năm 2024.[7] Tháng 9 năm 2024, Đặng Dục gia nhập khoa toán của Đại học Chicago với chức danh phó giáo sư và được phong giáo sư vào tháng 6 năm 2025.[7]
Đặng Dục nghiên cứu phương trình vi phân riêng phần và vật lý toán học, đặc biệt là các phương pháp xác suất và tổ hợp cho những hệ sóng và hạt phi tuyến. Cùng với Andrea Nahmod và Nhạc Hải Thiên (Haitian Yue), ông phát triển công cụ gọi là tensor ngẫu nhiên để nghiên cứu dữ liệu ban đầu ngẫu nhiên có độ trơn thấp cho phương trình Schrödinger phi tuyến hai chiều, qua đó chứng minh tính bất biến của độ đo Gibbs tương ứng. Sau đó, cùng Zaher Hani tại Đại học Michigan, ông sử dụng các khai triển tổ hợp của những sóng tương tác để suy ra một cách chặt chẽ phương trình động học sóng từ phương trình Schrödinger trên đúng thang thời gian mà vật lý dự đoán.[8]
Đặng Dục và các cộng sự tiếp tục điều chỉnh những phương pháp này cho các hệ quả cầu cứng. Họ suy ra[10] phương trình Boltzmann từ động lực học Newton của các hạt trên những khoảng thời gian dài, khắc phục vấn đề va chạm lặp lại vốn khiến các kết quả trước đó chỉ áp dụng được trong thời gian rất ngắn. Đối với một mô hình trong hộp tuần hoàn, khi kết hợp với những kết quả trước đây về giới hạn từ phương trình Boltzmann đến phương trình Navier–Stokes, công trình của họ thiết lập một phép chuyển đổi chặt chẽ từ chuyển động vi mô của các hạt sang ứng xử vĩ mô của chất lưu trong một trường hợp quan trọng của bài toán thứ sáu của Hilbert.[11][12][13]
Giải thưởng
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 2021, Đặng Dục nhận Học bổng Nghiên cứu Sloan nhằm ghi nhận thành tích nghiên cứu nổi bật ở giai đoạn đầu sự nghiệp.[6] Năm 2025, ông nhận Huy chương Vàng Toán học của Đại hội các nhà toán học người Hoa quốc tế (ICCM)[14] và Giải Oberwolfach vì "những thành tựu nổi bật trong giải tích và toán học ứng dụng".[15] Năm 2026, Đặng Dục và Zaher Hani cùng nhận Giải Leonard Eisenbud về Toán học và Vật lý của Hội Toán học Hoa Kỳ nhờ các đóng góp cho lý thuyết phương trình vi phân riêng phần tán sắc và động học sóng.[16] Cũng trong năm này, ông nhận Giải Nghiên cứu Clay vì "công trình suy ra phương trình Boltzmann cho thời gian dài từ một hệ các quả cầu cứng".[17]
Ngày 23 tháng 7 năm 2026, Đặng Dục được trao Huy chương Fields cùng Vương Hồng, John Pardon và Jacob Tsimerman tại Đại hội Toán học Quốc tế ở Philadelphia, Pennsylvania.[18] Ông và Vương Hồng là hai công dân Trung Quốc đầu tiên được trao giải này.[6] Trích dẫn ngắn của Hội liên hiệp Toán học quốc tế nêu lý do trao giải như sau:
Trích dẫn ngắn của Hội liên hiệp Toán học quốc tế về Huy chương Fields[19]
Sở thích và quan điểm cá nhân
[sửa | sửa mã nguồn]Đặng Dục chia sẻ rằng ông thích đọc và sáng tác thơ, đặc biệt là thơ Đường luật, và cho biết bài thơ yêu thích của ông là Cẩm sắt của Lý Thương Ẩn. Ông cũng yêu thích cờ vây, môn cờ mà ông từng thi đấu khi còn nhỏ và thỉnh thoảng vẫn chơi.[8]
Đặng Dục từ lâu quan tâm đến manga, đặc biệt là thể loại yuri, và đã nhiều lần nói công khai về sở thích này. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 8 năm 2026, ông cho biết mình bắt đầu quan tâm đến anime Nhật Bản và các loại hình nghệ thuật liên quan trong thời gian theo học tại MIT. Ông cũng kể từng thấy hứng thú với một diễn đàn truyện hâm mộ yuri và từng tự sáng tác truyện trước năm 2015, nhưng về sau chủ yếu tiếp tục tiếp xúc với những tác phẩm này với tư cách độc giả.[20] Trong cuộc phỏng vấn do Quanta đăng sau khi ông nhận Huy chương Fields, Đặng Dục nói rằng các câu chuyện yuri "dễ chịu, ấm áp và đẹp đẽ", đồng thời giúp ông đối xử tử tế hơn với chính mình và "cảm thấy thoải mái hơn với cuộc sống".[8]
Ngày 11 tháng 9 năm 2026, Đặng Dục viết trên mạng xã hội rằng nếu trí tuệ nhân tạo (AI) có thể giải được mọi bài toán thì ông sẽ "về nhà viết tiểu thuyết yuri"; sau đó ông nói với South China Morning Post rằng phát biểu này chỉ là một câu đùa.[21] Cùng ngày, ông và 25 chủ nhân Huy chương Fields khác ký tuyên bố A Severe Misalignment of AI in Mathematics (Sai lầm Nghiêm trọng về Mục tiêu của AI trong Toán học), trong đó họ cho rằng việc các công ty AI dùng khả năng giải bài toán làm thước đo có thể gây hại cho mục tiêu phát triển hiểu biết toán học và cho cộng đồng nghiên cứu toán học.[22]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 3 Cepelewicz, Jordana (ngày 23 tháng 7 năm 2026). "Yu Deng Wins the Fields Medal 2026 for His Work on the Random Data Problem". Quanta Magazine (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- ↑ 钟羽 (ngày 26 tháng 7 năm 2026). "菲尔兹奖获得者邓煜祖籍河南开封,全家学霸!舅舅回忆和他下棋的故事" [Fields Medalist Deng Yu’s Kaifeng Roots: A Family of Academic Prodigies as Uncle Recalls Chess Memories]. 大象新闻 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2026.
- ↑ Liu, Michael (ngày 21 tháng 6 năm 2023). "Mathematical maestro tackles nature's greatest puzzles". USC Dornsife News (bằng tiếng Anh). Đại học Nam California. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2026.
- 1 2 Searcy, Maureen (ngày 23 tháng 7 năm 2026). "UChicago Prof. Yu Deng receives Fields Medal, highest honor in mathematics". University of Chicago News (bằng tiếng Anh). Đại học Chicago. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "Deng Yu Wins Gold at the 47th International Mathematical Olympiad". Shenzhen Economic Daily (bằng tiếng Trung). ngày 1 tháng 9 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026 – qua Sina Corporation.
- 1 2 3 "Wang Hong and Deng Yu become first Chinese nationals to win Fields Medal". South China Morning Post (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 "Yu Deng: Curriculum Vitae". tháng 7 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - 1 2 3 4 5 Cepelewicz, Jordana (ngày 23 tháng 7 năm 2026). "Amid Life's Chaos, a Meticulous Mathematician Finds Stability". Quanta Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026.
- ↑ Best, Zia (ngày 5 tháng 2 năm 2015). "Four win Jacobus Fellowship, top graduate student honor". Princeton News (bằng tiếng Anh). Đại học Princeton. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- ↑ Deng, Yu; Hani, Zaher; Ma, Xiao (2024). "Long time derivation of the Boltzmann equation from hard sphere dynamics". arXiv:2408.07818 [math.AP].
- ↑ Sloman, Leila (ngày 11 tháng 6 năm 2025). "Epic Effort to Ground Physics in Math Opens Up the Secrets of Time". Quanta Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026.
- ↑ Jo, GaHyeon (ngày 29 tháng 6 năm 2026). "Yu Deng uses mathematics to explain gas molecules' motion and resolves a 125-year problem". DongA Science. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2026.
- ↑ Deng, Yu; Hani, Zaher; Ma, Xiao (2025). "Hilbert's sixth problem: derivation of fluid equations via Boltzmann's kinetic theory". arXiv:2503.01800 [math.AP].
- ↑ "ICCM Gold Medal of Mathematics". ICCM 2025 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2026.
- ↑ "Oberwolfach Prize 2025 goes to Yu Deng". MFO (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "News: Faculty Awards". Physical Sciences Division, University of Chicago (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2026.
- ↑ "Yu Deng". Clay Mathematics Institute (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- ↑ Chang, Kenneth (ngày 23 tháng 7 năm 2026). "Four Young Mathematicians Receive Prestigious Fields Medals". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "Fields Medal 2026: Yu Deng" (PDF). Hội liên hiệp Toán học quốc tế. ngày 23 tháng 7 năm 2026. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2026.
- ↑ "菲尔兹奖之后"一切如常" 对话邓煜:人生充满随机,遇到机会不妨伸手抓住" ["Business as Usual" After the Fields Medal: A Conversation with Deng Yu—Life Is Full of Randomness; When Opportunity Knocks, Don't Hesitate to Seize It]. 每经网 (bằng tiếng Trung). ngày 24 tháng 8 năm 2026.
- ↑ Huang, Shi (ngày 11 tháng 9 năm 2026). "I'll write romance novels if AI solves all maths problems, Chinese Fields winner jokes". South China Morning Post.
- ↑ Tao, Terence (ngày 11 tháng 9 năm 2026). "A Severe Misalignment of AI in Mathematics". What's new (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2026.